văn học trung đại lớp 7
Đại học Văn Lang: Xét điểm trung bình năm học lớp 12, hoặc xét điểm trung bình năm học lớp 11 và học kỳ I lớp 12. Từ ngày 1/3 đến 30/4: 47: Đại học Văn Hiến: Xét kết quả học bạ với thí sinh đã tốt nghiệp THPT, tương dương hoặc đang học lớp 12: Từ ngày 25/1 đến
Môn Văn Lớp: 7 Giúp em bài này với ạ: Nhận xét về văn học trung đại Việt Nam (giai đoạn thế kỉ 10 đến thế kỉ 15) có nhận định cho rằng : Một trong những nét nổi bật nhất của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn này là tình cảm yêu nước sâu sắc thiết tha .
Những bài văn mẫu hay lớp 7. Văn mẫu lớp 7: Tinh thần nước là một trong những chủ đề lớn của thơ trung đại bằng một số bài được học trong chương trình lớp 7 hãy chứng minh gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình.
7. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể cân nặng và thấp còi dưới 1%; trẻ thừa cân dưới 5%. Tỷ lệ bé sạch, bé ngoan đạt từ 95% trở lên, bé chăm đạt từ 90% trở lên. Đánh giá sự phát triển của trẻ theo 05 lĩnh vực phát triển đạt từ 90% trở lên. 8. Giữ vững trường đạt KĐCL giáo dục cấp độ 2 và đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
Năm 2022, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội sẽ tuyển sinh theo 04 phương thức: - Xét tuyển thẳng theo Quy chế Tuyển sinh năm 2022 của Bộ GD & ĐT. - Xét tuyển theo điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2022; - Xét học bạ THPT kết hợp với quy định của Trường; - Xét học bạ THPT kết hợp
Tout Les Site De Rencontre Gratuit En France. Văn học trung đại Việt Nam Các giai đoạn phát triển và đặc điểm nổi bật 0933 29/04/2022 Một trong những nền văn học quan trọng góp mặt nhiều nhất trong chương trình giảng dạy tại trường lớp là văn học trung đại. Nền văn học này có hàng loạt các tác phẩm quen thuộc mà bất kỳ học sinh nào cũng dễ dàng ghi nhớ. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ văn học trung đại là gì, trải qua quá trình hình thành như thế nào và giá trị mang lại ra sao? Khái niệm nền Văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại là cách gọi bao quát cho các tác phẩm được hình thành và phát triển trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam. Chính sự ra đời của nền văn học này, kết hợp cùng tính phong phú sẵn có của văn học dân gian, đã góp phần hoàn chỉnh diện mạo văn học dân tộc. Song, văn học trung đại khá đa dạng về thể loại cũng như các đặc tính nổi bật. Cùng CoLearn tìm hiểu chi tiết về lịch sử phát triển và đặc trưng của nền văn học này thú vị ra sao trong bài viết dưới đây nhé! Văn học trung đại đa dạng về thể loại và các đặc tính nổi bật Các giai đoạn lịch sử của nền văn học trung đại Việt Nam Giai đoạn 1 Từ đầu thế kỷ X đến hết thể kỷ XIV Thế kỷ X ghi nhận một dấu mốc lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam khi ta giành được quyền độc lập tự chủ. Văn học tại thời điểm này chủ yếu là các tác phẩm được sáng tác bằng chữ Hán với nội dung chính xoay quanh tinh thần dân tộc, tình yêu nước, thương dân. Một số tác phẩm nổi bật có thể kế tới như Hịch tướng sĩ Trần Quốc Tuấn, Chiếu dời đô Lý Công Uẩn, Đại Việt sử kí Lê Văn Hưu,... Mãi đến cuối thể kỷ XIII, nền văn học đánh dấu một bước ngoặt lớn với sự xuất hiện của Văn học chữ Nôm. Các tác phẩm được viết bằng chữ Nôm chủ yếu là thơ thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, bao gồm ngâm khúc, truyện thơ, phú, văn tế,... phản ánh chân thực đời sống con người Việt Nam thời bấy giờ. Nắm vững khái niệm văn học trung đại là gì cùng khái niệm trạng ngữ là gì giúp học sinh học tốt môn Văn hơn. Học sinh muốn nâng cao năng lực bản thân nhanh hơn có thể đăng ký khóa học trực tuyến của Colearn để giáo viên Colearn định hướng phương pháp học hiệu quả nhất. Văn học trung đại trong giai đoạn từ đầu thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV Giai đoạn 2 Từ đầu thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII, văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm cùng phát triển song song với nội dung đan xen giữa ngợi ca tinh thần yêu nước và phê phán hiện thực xã hội phong kiến đầy. Văn chính luận và văn xuôi tự sự là 2 thể loại có bước phát triển vượt bậc của văn học chữ Hán tại thời điểm này. Trong đó, phải kể đến những đóng góp to lớn của Nguyễn Trải với Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Dữ với Truyền kì mạn lục và Lê Thánh Tông với Thánh Tông di thảo tương truyền. Tình huống truyện cũng là kiến thức quan trọng để học sinh hiểu được diễn biến của các câu chuyện. Văn học chữ Nôm trong giai đoạn này đạt được thành tựu có phần nhỉnh hơn khi kết hợp hài hòa giữa các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc và thể loại đặc trưng của văn học dân tộc như Thơ theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch vân quốc ngữ thi, Quốc âm thi tập. Khúc ngâm thể song thất lục bát Tứ thời khúc vịnh. Diễn ca lịch sử thể lục bát và song thất lục bát Thiên Nam ngữ lục lục bát, Thiên Nam minh giám song thất lục bát. Giai đoạn 3 Từ đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Giai đoạn từ đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, chế độ phong kiến dần suy thoái bởi các phong trào nông dân khởi nghĩa, người dân Việt nổi dậy đấu tranh giải phóng con người. Văn học trong hoàn cảnh đương thời cũng vì vậy mà trở nên rực rỡ, đáng ghi nhớ. Trong quá trình học tập các em có thể tham khảo thư viện bài giảng điện tử của Colearn để nắm vững kiến thức lý thuyết chính xác nhất. Theo dòng sự kiện, trào lưu nhân đạo chủ nghĩa ra đời, đặc biệt là khi người phụ thời bấy giờ bắt đầu cất tiếng nói đòi quyền sống, quyền bình đẳng, hạnh phúc. Hàng loạt các tác phẩm văn học đều đề cập đến nữ giới, như Chinh phụ ngâm Đặng Trần Côn, Cung oán ngâm khúc Nguyễn Gia Thiều, kiệt tác Truyền Kiều của Nguyễn Du,... Đồng thời, sự xuất hiện của các nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,... cũng góp phần tạo thêm điểm nhấn cho nền văn học trung đại giai đoạn này. Xem thêm Văn học dân gian là gì? Đặc trưng cơ bản và thể loại của Văn học dân gian Bên cạnh đó, các tác phẩm xoay quanh thế giới nội tâm riêng tư, ý thức cá nhân của con người cũng ngày càng phát triển thoải mái, mạnh mẽ hơn dưới cả 2 hình thức văn xuôi và văn vần, được thể hiện bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Vì vậy, nắm vững khái niệm văn học trung đại là gì giúp các em học sinh học tập môn Văn hiệu quả nhất. Văn học từ đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX đề cập nhiều đến người phụ nữ Giai đoạn 4 Nửa cuối thế kỷ XIX Nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, mở ra thời kỳ thực dân nửa phong kiến. Chủ nghĩa yêu nước trong văn học cũng vì vậy mà càng được đẩy mạnh hơn cùng âm hưởng bi tráng, hào hùng, nổi bật trong đó phải kể đến nhà văn lớn Nguyễn Đình Chiểu với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của nhiều nhà thơ quen thuộc như Phan Văn Trị, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Thông,... với các tác phẩm thơ ca yêu nước mà bạn đã, đang và sẽ được học trong chương trình Ngữ Văn. Ngoài ra giai đoạn này còn ghi nhận thành tựu của thơ ca trữ tình – trào phúng với 2 nhân vật tiêu biểu là Tú Xương và Nguyễn Khuyến. Đặc biệt, sự xuất hiện của văn học chữ Quốc ngữ xuyên suốt thế kỷ XIX đã mang đến làn gió mới cho nền văn học Việt Nam, trở thành văn tự duy nhất được duy trì để sáng tác cho đến ngày nay. Tới đây, các em đã nắm vững được các giai đoạn phát triển của nền văn học trung đại Việt Nam. Nếu bạn có khó khăn gì trong quá trình học tập văn học có thể tham gia hỏi đáp bài tập để Colearn giúp bạn nắm vững kiến thức sâu hơn. 3 Đặc trưng nổi bật của văn học trung đại Việt Nam Xuyên suốt các quá trình lịch sử, nền văn học ghi nhận 3 đặc điểm văn học trung đại nổi bật dưới đây Đặc trưng 1 Tính song ngữ là yếu tố không thể thiếu trong văn học trung đại Có thể thấy, đặc trưng thường thấy nhất trong văn học trung đại Việt Nam là tính song ngữ đan xen giữa văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Tiêu biểu là khoảng thời gian từ đầu thế kỷ X đến hết thể kỷ XIV, do ảnh hưởng sâu rộng từ văn hóa Hán mà chữ Hán gần như trở thành ngôn ngữ sáng tác chủ đạo của các nhà văn Việt Nam. Song, về mặt nội dung, vẫn đảm bảo đề cao được chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc Việt. Học sinh có thể xem thêm giải bài tập sách giáo khoa để hiểu sâu kiến thức nhanh nhất. Đặc trưng 2 Văn học trung đại kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian Với tính chân thực, đa dạng nhiều màu sắc, văn học dân gian trở thành nguồn cảm hứng bất tận của nhiều nền văn học dân tộc, trong đó có cả văn học trung đại Việt Nam. Cụ thể, văn học viết trung đại tiếp thu từ văn học dân gian nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm đề tài, quan niệm thẩm mỹ, thể loại, ngôn từ. Nhờ những tư liệu liệu học hỏi từ văn học dân gian, các tác phẩm thơ ca trung đại, tập văn xuôi chữ Hán, truyện Nôm thêm phần chân thực và chuẩn xác hơn. Không những thế, hai nền văn học còn có mối tác động, bổ sung lẫn nhau trong suốt chặng đường phát triển, góp phần hoàn thiện nền văn học dân tộc. Vì vậy, các em học sinh cần nắm vững văn học trung đại là gì, các đặc trưng của nó cùng cách làm bài văn tự sự để học tốt môn Văn. Văn học dân gian là nguồn cảm hứng phát triển văn học trung đại Việt Nam Đặc trưng 3 Văn học trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng tôn giáo Tư tưởng tôn giáo luôn là nền tảng hình thành các tác phẩm văn học trung đại. Nói cách khác, sự phát triển của văn học trung đại đều phải theo khuôn khổ các học thuyết Phật, Nho, Đạo vì chính những quan điểm này đã tạo nên nét đặc thù trong tư tưởng người dân về bản chất vũ trụ, thiên nhiên, và con người. Muốn học tốt văn học trung đại các em có thể tham khảo chuyên đề tác phẩm văn học trung đại Ngữ Văn 9 do giáo viên Colearn biên soạn thường xuyên. Hơn nữa, tư tưởng tôn giáo còn đem lại những hệ quả đặc trưng như hạn chế ý thức và biểu hiện tâm tư, tình cảm cá nhân; là thi liệu cho các bài học đạo đức, mang tính uốn nắn, giáo dục con người; phân biệt rõ ràng giữa văn học linh thiêng và văn phàm tục. Nắm vững 3 đặc điểm trên cùng cách học thuộc Văn hiệu quả giúp học sinh đạt kết quả học tập tốt nhất. Bài viết trên đây đã khai thác cụ thể từng giai đoạn phát triển cũng như đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam. Nền văn học này vốn đa dạng và trải qua quá trình lịch sử khá dài nên CoLearn hy vọng những thông tin kể trên sẽ phần nào giúp các bạn có cái nhìn toàn diện hơn, phục vụ cho việc nghiên cứu và ôn tập đạt hiệu quả cao. img{max-width 100%;} Chia sẻ
I. Nội dung Câu 1 Văn học giai đạn từ TK XVIII đến hết thế kỉ XIX - Nội dung yêu nước yêu thiên nhiên, đất nước, niềm tự hào dân tộc, lòng căm thù giặc, ý chí chiến đấu bất khuất chống giặc ngoại xâm. - Nội dung nhân đạo khát khao tự do, tình yêu, hạnh phúc, cảm thông với người phụ nữ. * Điểm mới về nội dung trong giai đoạn này - Nội dung yêu nước mang âm hưởng bi tráng trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu – vì nó phản ánh một thời khổ nhục nhưng vĩ đại. - Tư tưởng canh tân đất nước đề cao vai trò của luật pháp, nhà nước pháp quyền tác phẩm Xin lập khoa Luật của Nguyễn Trường tộ. - Ý thức về vai trò của người trí thức, bậc hiền tài đối với đất nước Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm. Câu 2 Chủ nghĩa nhân đạo giai đoạn từ TK XVIII đến hết thế kỉ XIX xuất hiện một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa bởi - Những tác phẩm mang nội dung nhân đạo xuất hiện nhiều, liên tiếp với các tác phẩm có giá trị lớn Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, thơ của Hồ Xuân Hương ... - Những nội dung nhân đạo chủ yếu thể hiện trong giai đoạn này là + Sự thương cảm trước bi kịch và đồng cảm trước khát vọng của con người. + Khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm con người. + Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp con người. + Đề cao truyền thống đạo lí, nhân nghĩa của dân tộc. - Cảm hứng nhân đạo trong giai đoạn này cũng có những biểu hiện mới + Hướng vào quyền sống của con người Truyện Kiều, thơ của Hồ Xuân Hương. + Ý thức về cá nhân đậm nét hơn quyền sống cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tài năng cá nhân, … Đọc Tiểu Thanh kí, Tự tình II, Bài ca ngất ngưởng, … -> Đây cũng chính là nội dung nhân đạo cơ bản nhất trong giai đoạn văn học này. Câu 3 Giá trị phản ánh và phê phán hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh Dàn ý a. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm của đoạn trích Nêu luận điểm của đề Ví dụ Không chỉ là một danh y lỗi lạc, Lê Hữu Trác còn là một văn nhân văn nhân tài ba của nước ta ở TKXVIII. Nhắc đến ông không thể không nhắc đến "Thương kinh kí sự". Tác phẩm phản ánh hiện thực sâu sắc cuộc sống xa hoa, giàu sang, quyền uy tột bậc của nhà chúa. Giá trị ấy đặc biệt được thể hiện qua đoạn trích "Vào phủ chúa Trịnh". b. Thân bài Cần triển khai rõ các ý sau * Bức tranh hiện thực về cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa - Quang cảnh nơi phủ chúa hiện lên cực kì xa hoa, tráng lệ và không kém phần tôn nghiêm. Cảnh nói lên uy quyền tột bậc của nhà chúa. Những tiếng quát tháo, truyền lệnh, những tiếng dạ ran, những con người oai vệ, những con người khúm núm, sợ sệt … có những cửa gác, mọi việc đều có quan truyền mệnh, chỉ dẫn. Thầy thuốc khám bệnh phải chờ, nín thở, khúm núm, lạy tạ. - Cùng với sự xa hoa là cung cách sinh hoạt đầy kiểu cách từ nơi ở đến tiện nghi, từ vật dụng đến đồ ăn thức uống. Đến cả việc đi đứng, nói năng cũng vô cùng kiểu cách. * Cuộc sống nơi Trịnh phỉ thiếu sinh khí vô cùng. Đó cũng là nguyên nhân gây ra sự ốm yếu của thái tử Cán. Sự thâm nghiêm kiểu mê cung càng làm tăng âm khí nơi phủ chúa. Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, ta thấy sự lộng quyền của nhà chúa với quyền uy tối thượng và nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng gia đình; sự thật bù nhìn của vua Lê khi ấy… Cuộc sống vật chất đầy đủ giàu sang nhưng phẩm chất tinh thần, ý chí nghị lực trống rỗng. Đó cũng chính là hình ảnh suy yếu mục ruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh những năm cuối TK XVIII. Qua cách miêu tả người tả cảnh rất khách quan, tác giả đã ngầm phê phán kín đáo cảnh giàu sang xa hoa quyền uy ghê gớm của chúa Trịnh đồng thời thể hiện tâm hồn cao thượng, khát khao cuộc sống tự do không màng danh lợi của vị danh y Hải Thượng Lãn Ông. c. Kết bài Khẳng định lại vấn đề và liên hệ bản thân. Ví dụ Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh mang giá trị hiện thực sâu sắc. Bằng tàỉ quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sông xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường lợi danh của mình. Đối với ông thì không có gì quý bằng cuộc sống tự do nơi non xanh nước biếc chốn quê nhà, được đem hết tài năng, nhiệt huyết cống hiến cho y thuật và cứu nhân độ thế. Cuộc sống nơi cung vua, phủ chúa dẫu giàu sang phú quý tột bậc nhưng rốt cục cũng chỉ là vào luồn ra cúi, cá chậu chim lồng mà thôi. Câu 4 * Những giá trị nội dung và nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu - Giá trị nội dung đề cao đạo lí nhân nghĩa qua Truyện Lục Vân Tiên, nội dung yêu nước, chống giặc ngoại xâm qua Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. - Giá trị nghệ thuật Đóng góp nối bật nhất là tính chất đạo đức – trữ tình, màu sắc Nam Bộ qua ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật. * Trước Nguyễn Đình Chiểu, văn học dân tộc chưa có một hình tượng hoàn chỉnh về người anh hùng nông dân nghĩa sĩ. Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Hình ảnh người anh hùng nông dân nghĩa sĩ mang vẻ đẹp bi tráng bới hai yếu tố + Yếu tố bi Gợi lên qua cuộc sống vất vả, lam lũ. Nỗi đau buồn, thương tiếc trước sự mất mát, hi sinh và tiếng khóc đau thương của người còn sống. + Yếu tố tráng Lòng căm thù giặc, lòng yêu nước, hành động quả cảm, anh hùng của nghĩa quân, sự ca ngợi công đức của những người đã hi sinh vì quê hương, đất nước. II. Về phương pháp Câu 1 Lập bảng tổng kết tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 11 theo mẫu sau Câu 2 a. Những yếu tố mang tính quy phạm và sự sáng tạo trong tính quy phạm ở bài "Câu cá mùa thu" của Nguyễn Khuyến - Về phương diện nội dung bài thơ lấy đề tài từ cuộc sống thôn quê - một khung cảnh làng quê, một ao thu tức là phá vỡ tính quy phạm về phương diện đề tài trong văn chương trung đại. Chính trên cơ sở hòa mình vào nhịp sống, điệu sống của nhân dân, nhà thơ đã phát hiện ra được mối quan hệ giàu tính giá trị nhân văn giữa thiên nhiên và đời sống con người với những hình tượng thơ chân thực, sinh động, gần gũi với tâm hồn dân tộc. - Về phương diện hình thức nghệ thuật Bài thơ được sáng tạo bằng chữ Nôm cho nên có thể miêu tả một cách cụ thể và linh hoạt hơn văn học chữ Hán những nét phong phú và mỹ lệ của thiên nhiên vùng nông thôn Việt Nam, có thể biểu lộ một cách sâu sắc và tế nhị hơn những khía cạnh độc đáo trong tâm hồn người Việt. Các từ ngữ gợn tí, đưa vèo, trong veo... cách sử dụng vần điệu.... đã đem lại cho bài thơ một sức biểu cảm rất lớn khi miêu tả thiên nhiên cũng như tâm trạng của nhà thơ. b. Các điển tích, điển cố * Truyện Lục Vân Tiên trích đoạn "Lẽ ghét thương" - Kiệt, Trụ, U, Lệ, Ngũ bá Là những triều đại trong lịch sự Trung Quốc với những ông vua hoang dâm, vô đạo, những thời đại đổ nát, hoang tàn -> Nhấn mạnh sự khinh ghét của ông Quán với loại người này, từ số nói rõ quan điểm về "ghét" của ông quán. - Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Vũ, Liêm, Lạc -> Là những điển tích về những người có tài đức nhưng lại phải chịu một cuộc đời vất vả, bị gièm pha, bị người hại -> Nhấn mạnh tấm lòng của ông Quán về thương yêu con người. * Bài ca ngất ngưởng - Phơi phới ngọn đông phong, phường Hàn Dũ... nhằm lên cái thú tiêu dao của một người sống ngoài vòng danh lợi, đồng thời cũn g là để khẳng định sự ngất ngưởng của mình, đặt mình với những bậc tiền bối ngày xưa... * Bài ca ngắn đi trên bãi cát - Ông tiên ngũ kĩ, danh lợi.... là những điển tích, điển cố, những thi liệu hán được Cao Bá Quát dùng để bộc lệ sự chán ghét của người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đồng thời thể hiện niềm khao khát đổi thay cuộc sống. c. Bút pháp nghệ thuật thiên về ước lệ, tượng trưng trong bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát. - Trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát Cao Bá Quát, bút pháp tượng trưng đã được nhà thơ sử dụng khá hiểu quả. Bãi cát là hình ảnh tượng trưng cho con đường danh lợi nhọc nhằn, gian khổ. Những người tất tả đi trên bãi cát là những người ham công danh, sẵn sàng vì công danh mà chạy ngược, chạy xuôi. - Nhà thơ gọi con đường mình đang đi là con đường cùng. Hình ảnh con đường cùng ấy có ý nghĩa tượng trưng cho con đường công danh, con đường vô nghĩa. Con đường ấy không thể giúp ông đạt được lí tưởng cao đẹp của mình. d. * Một số tác phẩm thể loại gắn liền với tên tác phẩm là - Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc văn tế. - Bài ca ngất ngưởng hát nói. - Chiếu dời đô chiếu. - Bình Ngô đại cáo cáo. - Hịch tướng sĩ hịch. - Hoàng lê nhất thống chí chí. - Thượng kinh kí sự kí sự. - Vũ trung tùy bút tùy bút. * Đặc điểm về hình thức nghệ thuật trong thơ Đường luật Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức tạp được thể hiện ở 5 điều sau Luật, Niêm, Vần, Đối và Bố cục. Điều căn bản của luật thơ Đường luật là đối, đó là hai nguyên tắc đối âm và đối ý, nghĩa là lần lượt những chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3,... của câu trên phải đối với các chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3,... của câu dưới cả về âm và ý. Nhưng làm được như thế thì rất khó, vì vậy người ta quy ước nhất tam ngũ bất luật chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật. * Đối trong thơ thất ngôn bát cú - Đối âm luật bằng trắc Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có "luật trắc". Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi "thất luật". Ví dụ - Đối ý Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường luật là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối" nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Đối chữ danh từ đối danh từ, động từ đối động từ. Đối cảnh trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh... Nếu một bài thơ Đường luật mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì bị gọi "thất đối". Ví dụ hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà, "Lom khom" đối với "lác đác" hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh, "dưới núi" đối với "bên sông" vị trí địa hình, song nếu nối hình ảnh hai câu trên "lom khom dưới núi" và "lác đác bên sông" thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được. Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm "lom khom" chỉ dáng người của câu trên, và "lác đác" chỉ số lượng của câu dưới. Hai vế tiếp "tiều vài chú" đối với "chợ mấy nhà" đối lập về số lượng và tĩnh/động. Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh.
Học đường HHT - Sáng 10/6, thí sinh 2K8 tại Hà Nội chính thức bước vào kỳ thi lớp 10 với môn thi đầu tiên là Ngữ văn. Điểm nhấn của đề thi nằm ở câu hỏi thuộc phần Nghị luận xã hội khi đặt teen vào vị trí cha mẹ để thấu hiểu những nỗi lòng khó cất thành lời. Môn Ngữ văn là môn thi đầu tiên của kỳ thi vào lớp 10 công lập tại Hà Nội năm 2023. Với điểm nhân hệ số 2, môn thi được đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó, phần nghị luận văn học xoay quanh tác phẩm "Những ngôi sao xa xôi" của nhà văn Lê Minh Khuê. Đây cũng là tác phẩm mà trường THPT Chuyên Khoa học xã hội và Nhân văn lựa chọn đoạn trích để ra đề cho thí sinh thi vào trường năm nay. Phần nghị luận xã hội 3,5 điểm gợi mở thí sinh trình bày suy nghĩ về "ý nghĩa của việc làm chủ cảm xúc bản thân" từ tâm sự của một người cha về những trăn trở hướng về con. Đề thi môn Văn vào lớp 10 tại Hà Nội năm 2023. Chiều nay, từ 14h, các thí sinh sẽ bước vào bài thi môn Ngoại ngữ theo hình thức trắc nghiệm, thời gian làm bài 60 phút. Sáng ngày mai 11/6, các thí sinh sẽ làm bài thi môn Toán hình thức tự luận, 120 phút. Theo thống kê của Sở GD&ĐT Hà Nội, hơn thí sinh dự thi vào lớp 10 công lập năm nay. Với chỉ tiêu tỷ lệ trúng tuyển là 66,5%. Cả thành phố có hơn 200 điểm thi, khoảng cán bộ, giáo viên và nhân viên tham gia các công tác coi thi, chấm thi. Để được xét tuyển lớp 10 công lập, thí sinh phải làm đủ các bài thi, không vi phạm quy chế, không bài thi nào bị điểm 0. Điểm xét tuyển vào các trường THPT không chuyên là tổng điểm Văn và Toán nhân hệ số hai, cùng điểm Ngoại ngữ và ưu tiên. Với trường chuyên, thí sinh thi thêm môn chuyên trong ngày 12/6. Điểm xét tuyển là tổng điểm ba bài thi Toán, Văn, Ngoại ngữ và điểm môn chuyên nhân hệ số 2. Điểm chuẩn lớp 10 của Hà Nội sẽ được công bố vào ngày 8-9/7. 09/06/2023 10/06/2023 10/06/2023 Có thể bạn quan tâm Đề thi Toán vào lớp 10 khiến thí sinh hiểu nhầm do mực in mờ, Sở GD&ĐT Hà Nội nói gì? HHT - Nhiều phụ huynh đang tập hợp thông tin để kiến nghị Sở GD&ĐT Hà Nội xem xét việc đề thi môn Toán vào lớp 10 bị mờ khiến nhiều thí sinh hiểu nhầm, làm sai đề. Điểm chuẩn lớp 10 Phổ thông Năng khiếu Điểm vào chuyên Hóa cao nhất Lớp 10 chuyên Hóa trường Phổ thông Năng khiếu có điểm trúng tuyển cao nhất với 33 điểm, cao hơn năm ngoái gần 2 điểm. Let's On Air Award 2023 Giới trẻ đi tìm câu trả lời cho đam mê của chính mình "Let’s On Air 2023" là chiến dịch thường niên của nhóm truyền thông sinh viên S Communications. Với sứ mệnh đồng hành cùng giới trẻ mang đến góc nhìn đa dạng về xã hội và con người thông qua truyền thông tích cực, đối tượng hướng đến của chiến dịch là các bạn trẻ từ 18 - 25 tuổi. Cựu thí sinh Đường Lên Đỉnh Olympia trở thành Thủ khoa kỳ thi Đánh giá năng lực đợt 2 HHT - Phan Lê Thúc Bảo - Thủ khoa kỳ thi Đánh giá năng lực đợt 2 của Đại học Quốc gia khiến nhiều người “ngả mũ” thán phục khi sở hữu thành tích học tập “đỉnh của chóp”. Đường Lên Đỉnh Olympia Nam sinh Hà Nội giành vòng nguyệt quế đầy ngoạn mục HHT - Đối mặt với các đối thủ “nặng ký” khiến cho vị trí dẫn đầu mỗi vòng thi liên tục đổi chủ, Đỗ Bảo Minh trường THPT chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội vẫn giữ vững tinh thần và quyết tâm, phát huy thế mạnh của mình giành lấy vòng nguyệt quế. Đáp án tham khảo môn Toán kỳ thi vào lớp 10 THPT tại Hà Nội năm 2023 HHT - Dưới đây là gợi ý đáp án môn Toán - kỳ thi vào lớp 10 THPT tại Hà Nội năm 2023, mời thí sinh tham khảo. Nhận định đề thi Toán vào lớp 10 tại Hà Nội Cấu trúc tương tự đề năm ngoái, 7 điểm dễ lấy HHT - Sáng nay 11/6, thí sinh 2K8 tại Hà Nội đã hoàn thành bài thi môn Toán - môn thi cuối cùng trong kỳ thi vào lớp 10 công lập không chuyên năm 2023. Đề thi Đại học môn Ngữ văn ở Trung Quốc dễ hơn mọi năm, gợi mở tư duy cho sĩ tử HHT - Mỗi khi kỳ thi tuyển sinh Đại học của Trung Quốc Cao khảo diễn ra thì cộng đồng mạng lại được phen “rần rần” vì độ hóc búa và sự sáng tạo của người ra đề. Năm nay, đề thi môn Ngữ văn vẫn leo thẳng lên top tìm kiếm và được đánh giá là dễ thở hơn những năm trước. Hà Nội Thí sinh nhận định đề môn Văn vào 10 tương đối dễ thở, tự tin đạt điểm cao HHT - Đề thi môn Ngữ văn vào lớp 10 THPT tại Hà Nội năm nay được đánh giá vừa sức với các sĩ tử.
văn học trung đại lớp 7